Anonymous
in Insurance Law
Asked May 15, 2017

Tranh chấp bảo hiểm trách nhiệm dân sự - Chuyển giao quyền yêu cầu

  • 1 Answer
  • 272 Views

Công ty tôi là một công ty bảo hiểm vừa thành lập và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm trách nhiệm. Cuối tháng 11/2016, công tôi có ký kết một hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của người sử dụng lao động đối với người lao động, bên được bảo hiểm là công ty trách nhiệm hữu hạn A.

Ngày 21/12/2016, văn phòng của công ty A bị cháy do lỗi của một chủ xưởng hàn trong quá trình làm việc đã không ngắt điện thiết bị dẫn đến gây thương tích cho một số người trong văn phòng. Những người này đã yêu cầu công ty A bồi thường theo hợp đồng lao động. Công ty A đã có công văn yêu cầu công ty tôi thương lượng và tiến hành thỏa thuận bồi thường.

Tôi xin hỏi Luật sư trong trường hợp này sau khi bồi thường cho những người bị thương, công ty tôi có quyền yêu cầu chủ xưởng hàn trả lại khoản tiền bồi thường không?

Answer 1

Theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành, trong trường hợp này, quý công ty có thể đại diện thương lượng và tiến hành thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho những người bị thương do cháy văn phòng của công ty A; đồng thời, quý công ty có quyền yêu cầu chủ xưởng hàn trả lại khoản tiền bồi thường trên. Bởi lẽ, Điều 56 và Điều 57 Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành (“Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013”) có quy định:

[Điều 56]

Điều 56. Quyền đại diện cho người được bảo hiểm

Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền thay mặt bên mua bảo hiểm để thương lượng với người thứ ba về mức độ bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác trong hợp đồng bảo hiểm.”

[Điều 57]

Điều 57. Phương thức bồi thường

Theo yêu cầu của người được bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm có thể bồi thường trực tiếp cho người được bảo hiểm hoặc cho người thứ ba bị thiệt hại.”

Dựa vào những thông tin mà quý công ty cung cấp, chủ xưởng hàn có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho công ty A do không ngắt điện thiết bị dẫn đến cháy văn phòng gây thương tích cho những người trong văn phòng của công ty A, căn cứ theo quy định tại Điều 604 Bộ luật Dân sự 2005:

“Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.”

Cụ thể, hành vi của chủ xưởng hàn đã thỏa mãn các yếu tố làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Mục I Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng (“Nghị quyết 03/2006/NQ-HĐTP”):

  • Phải có thiệt hại xảy ra:
  • Khoản tiền mà công ty A phải bồi thường cho những người bị thương theo hợp đồng lao động được xem là thiệt hại vật chất, cụ thể là thiệt hại do tài sản bị xâm phạm căn cứ theo quy định tại Khoản 4 Điều 608 Bộ luật Dân sự 2005. [“Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.”]

  • Phải có hành vi trái pháp luật:
  • Hành vi không ngắt điện thiết bị dẫn đến cháy văn phòng của chủ xưởng hàn được xem là hành vi trái pháp luật về phòng cháy, chữa cháy.

  • Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật:
  • Hành vi không ngắt điện thiết bị dẫn đến cháy văn phòng của chủ xưởng hàn đã gây thương tích cho những người trong văn phòng làm phát sinh chi phí bồi thường theo hợp đồng lao động của công ty A.

  • Phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại:
  • Trong trường hợp này, dựa trên thông tin quý công ty cung cấp, chúng tôi cho rằng chủ xưởng hàn hoàn toàn có lỗi; tuy nhiên, để có thể xác định là lỗi cố ý hay lỗi vô ý thì còn tùy thuộc vào các chứng cứ thu thập được. Cụ thể, Khoản 2 Điều 308 Bộ luật Dân sự 2005 quy định về lỗi trong trách nhiệm dân sự như sau:

    Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.

    Vô ý gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.

    Như vậy, công ty A có quyền yêu cầu chủ xưởng hàn bồi thường thiệt hại (khoản chi phí bồi thường cho những người bị thương). Tuy nhiên, vì quý công ty đã được công ty A yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bồi thường theo hợp đồng bảo hiểm nên quý công ty có quyền thỏa thuận với công ty A về việc chuyển giao quyền yêu cầu chủ xưởng hàn bồi thường thiệt hại, tức quý công ty có thể yêu cầu chủ xưởng hàn trả lại khoản tiền bồi thường mà quý công ty đã trả, căn cứ theo quy định tại Điều 309 Bộ luật Dân sự 2005:

    Điều 309. Chuyển giao quyền yêu cầu

    1. Bên có quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự có thể chuyển giao quyền yêu cầu đó cho người thế quyền theo thoả thuận.

    2. Khi bên có quyền yêu cầu chuyển giao quyền yêu cầu cho người thế quyền thì người thế quyền trở thành bên có quyền yêu cầu.

    Người chuyển giao quyền yêu cầu phải báo cho bên có nghĩa vụ biết bằng văn bản về việc chuyển giao quyền yêu cầu. Việc chuyển giao quyền yêu cầu không cần có sự đồng ý của bên có nghĩa vụ, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.”

    Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình. Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

    Ghi chú:

    Văn bản hợp nhất Luật Kinh doanh bảo hiểm

    Văn bản hợp nhất 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành, hợp nhất:

    • Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2001; và
    • Luật số 61/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2011.
    Agree Comment 0 Agrees over 4 years ago

    Please Login or Register to Submit Answer

    Directory ads
    Need to talk to a lawyer?

    Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.