Anonymous
in Insurance Law
Asked May 15, 2017

Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm tài sản – Chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn

  • 1 Answer
  • 293 Views

Tôi là thành viên công ty TNHH X, ngày 5/5/2016 công ty tôi có ký kết hợp đồng bảo hiểm cháy nổ cho tài sản là kho hàng vải sợi với công ty bảo hiểm Y. Hợp đồng bảo hiểm có hiệu lực trong một năm.

Ngày 25/11/2016, ông B [Bố của A – giám đốc công ty] vô ý làm cháy kho hàng của công ty. Sau khi xảy ra sự kiện bảo hiểm, Hội đồng thành viên của công ty đã họp và xem xét những đóng góp của B cho công ty và xem xét mối quan hệ giữa ông B và giám đốc A nên đã ra quyết định không yêu cầu ông B bồi thường cho công ty. Mặt khác, công ty TNHH X làm hồ sơ đề nghị công ty bảo hiểm Y bồi thường cam kết theo hợp đồng bảo hiểm nhưng bị công ty bảo hiểm Y từ chối.

Trong văn bản trả lời, lý do công ty bảo hiểm Y từ chối là vì công ty X từ chối không chuyển giao quyền yêu cầu bồi hoàn cho công ty bảo hiểm Y để yêu cầu ông A bồi hoàn. Các Luật sư cho tôi hỏi, trong trường hợp này, việc công ty bảo hiểm Y làm vậy là đúng hay sai? Tôi xin chân thành cảm ơn.

Answer 1

Trong trường hợp này, việc doanh nghiệp bảo hiểm Y từ chối yêu cầu bảo hiểm đối với lô hàng vải sợi của công ty quý khách là không đúng theo quy định của pháp luật.

Nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm

Trong trường hợp của quý khách, nếu việc cháy kho hàng của quý công ty được xem là sự kiện bảo hiểm và sự kiện này đã được quy định trong hợp đồng bảo hiểm của quý khách và doanh nghiệp bảo hiểm Y. Trong trường hợp này, quý khách hoàn toàn có thể yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm Y chi trả tiền bảo hiểm đối với kho hàng của mình theo quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 17 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013. Cụ thể:

Điều 17. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm

2. Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ:

…       

Trả tiền bảo hiểm kịp thời cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.”

Chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn

Theo quy định tại khoản 1 Điều 49 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPHQ năm 2013 hợp nhất Luật Kinh doanh bảo hiểm (“Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013”) có quy định về trách nhiệm yêu cầu chuyển quyền bồi hoàn như sau:

“Trong trường hợp người thứ ba có lỗi gây thiệt hại cho người được bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm đã trả tiền bồi thường cho người được bảo hiểm thì người được bảo hiểm phải chuyển quyền yêu cầu người thứ ba bồi hoàn khoản tiền mà mình đã nhận bồi thường cho doanh nghiệp bảo hiểm”.

Theo quy định nêu trên, thì việc chuyển quyền yêu cầu bồi hoàn sẽ bảo hiểm chuyển quyền yêu cầu đòi bồi thường cho mình khi có đủ hai điều kiện sau đây:

  • Người thứ ba phải có lỗi trong việc gây ra tổn thất cho người được bảo hiểm; và
  • Doanh nghiệp bảo hiểm đã phải trả tiền bồi thường cho người được bảo hiểm.

Căn cứ vào quy định trên, doanh nghiệp bảo hiểm Y phải thực hiện việc bồi thường cho lô hàng của công ty TNHH X, sau đó, khi thực hiện xong việc bồi thường thì doanh nghiệp bảo hiểm Y có quyền yêu cầu công ty TNHH X chuyển quyền yêu cầu bồi thường sang cho doanh nghiệp bảo hiểm Y theo quy định tại khoản 1 Điều 49 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPHQ năm 2013.

Tuy nhiên, theo thông tin mà quý khách cung cấp, công ty quý khách đã ra quyết định không yêu cầu ông B bồi thường cho công ty X. Trong trường hợp này, người được bảo hiểm [công ty TNHH X] đã từ bỏ quyền yêu cầu đối với người thứ ba bồi thường. Do đó, doanh nghiệp bảo hiểm Y có quyền khấu trừ số tiền bồi thường tùy theo mức độ lỗi của người được bảo hiểm [công ty TNHH X] theo quy tại khoản 2 Điều 49 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPHQ năm 2013. Cụ thể như sau:

“2. Trong trường hợp người được bảo hiểm từ chối chuyển quyền cho doanh nghiệp bảo hiểm, không bảo lưu hoặc từ bỏ quyền yêu cầu người thứ ba bồi thường thì doanh nghiệp bảo hiểm có quyền khấu trừ số tiền bồi thường tùy theo mức độ lỗi của người được bảo hiểm.”

Chúng tôi hi vọng những phần tư vấn trên đây sẽ giúp quý khách giải đáp được các thắc mắc của mình. Xin vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi để chúng tôi có thể cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý tốt nhất cho quý khách.

Ghi chú:

Văn bản hợp nhất Luật Kinh doanh bảo hiểm

Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH năm 2013 hợp nhất Luật kinh doanh bảo hiểm do Văn phòng Quốc hội ban hành, hợp nhất:

  • Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2001; và
  • Luật số 61/2010/QH12 ngày 24 tháng 11 năm 2010 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2011.
Agree Comment 0 Agrees over 4 years ago

Please Login or Register to Submit Answer

Directory ads
Need to talk to a lawyer?

Book a phone consultation with a top-rated lawyer on Lawfarm.